Thứ sáu, 3/10/2008, 11:15
E-mail
Bản in
Doanh nhân, những nhà bảo trợ cho văn hóa nghệ thuật
Việt Nam chúng ta đã hội nhập với quốc tế. Việc nguyên thủ quốc gia các nước đến dự hội nghị ở nước ta là chuyện bình thường. Ðầu tư quốc tế tại Việt Nam cũng đã ở nhịp độ cao. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ hội nhập này, chúng ta vẫn còn nhiều trăn trở về mối liên hệ giữa kinh doanh thương mại và kinh doanh vì sự tồn tại của văn hóa.
Trong quá khứ, tư duy của xã hội phong kiến thường cho rằng có sự cách ly giữa doanh thương và văn hóa. Nhưng họ quên rằng, nếu không có doanh thương sẽ không bao giờ có doanh thu cho nhiều nhóm nghệ thuật cổ truyền, cụ thể là hát chèo, hát tuồng và các lễ hội đình đám...! Vì doanh thương thật sự đã đem đến phúc lợi cho văn hóa nghệ thuật.
Tư duy ngày nay có đổi mới, các đại doanh nhân nhìn thấy mối liên hệ trực tiếp với văn hóa, đặc biệt là văn hóa truyền thống. Rockefeller, tỉ phú đầu tiên của nước Mỹ, khi chết đi vẫn để lại một cơ sở kinh doanh kếch xù, mà phần lớn thu nhập của nó đi vào việc hỗ trợ văn hóa. Ðến thăm mộ ông ở thành phố Cleveland (bang Ohio), tôi rất xúc động. Sự bình dị của ngôi mộ hoàn toàn trái ngược với khoản tài sản to lớn mà ông đã cống hiến cho những phát minh khoa học, những nghiên cứu nhân văn với mục tiêu bảo trợ văn hóa và từ thiện.
Thật ra không chỉ riêng Rockefeller mà đa số doanh nhân thành đạt khác trên thế giới đều quan tâm giúp đỡ các nhà làm văn hóa gồm học giả, nhà giáo và văn nghệ sĩ. Chỉ riêng ở Mỹ, các doanh nhân lớn như Guggenheim, Ford, McArthur, Gates và hàng triệu doanh nhân khác đã chia sẻ phúc lợi của mình cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa thế giới.
Trong lúc tài trợ cho các công trình nghiên cứu văn hóa, các doanh nghiệp cũng được chính phủ và công chúng hoan nghênh. Chính phủ các nước thường có chế độ giảm thuế để khích lệ việc làm của họ. Mức thuế dành cho các công ty có đóng góp cho văn hóa, nghệ thuật được giảm nhiều hơn mức thuế phải đóng từ doanh thu bình thường khác.
Thỉnh thoảng được mời tham dự vào Ðoàn cố vấn cho Ủy ban Nghệ thuật Quốc gia Mỹ (National Endowment for the Arts), tôi có dịp thẩm định nhiều dự án nghệ thuật mới biết rằng ngân sách Nhà nước Mỹ dành cho lĩnh vực nghệ thuật rất ít. Tôi ngạc nhiên về điều này nhưng đồng thời cũng thấy được sự tham gia rất năng động của các doanh nhân trong công tác bảo trợ nghệ thuật để bù đắp vào lỗ hổng đó. Mô hình kết hợp giữa nhà nước và doanh nhân đặc biệt triển khai dưới dạng "matching fund" (quỹ bổ túc tương ứng).
Doanh nhân phải tôn trọng nghệ thuật
Một câu hỏi có thể đặt ra ở đây: "Doanh nhân có phải là nhà văn hóa hay không?". Tôi nghĩ rằng các doanh nhân lớn, thành công trong nghiệp vụ là những người từng hấp thụ một nền giáo dục và văn hóa cơ bản vững chắc. Họ vận dụng trí tuệ rất nhiều để làm việc hiệu quả. Họ có tầm nhìn xa lẫn sự hiểu biết tinh tường về mặt nhân văn. Họ đọc được suy nghĩ của khách hàng, những đối tác thương mại, nắm bắt được thời cơ. Vì thế, doanh nhân có đầy đủ sự thông thạo của nhà văn hóa.
Kinh doanh mà không giỏi về giao tế, văn hóa sẽ không đạt hiệu quả. Doanh nhân là những người làm công tác văn hóa và phải quan tâm bảo trì văn hóa. Tôi nhớ lại câu nói rất ý nghĩa của một giáo sư kinh tế: "Cái vòng luân hồi trong lý thuyết kinh tế là phải bảo vệ đồng tiền làm ra bằng cách tự bảo vệ văn hóa của chính nhà kinh doanh". Người làm kinh doanh có tầm cỡ không những phải biết sống mà còn phải biết thể hiện văn hóa của sự sống thì sự kinh doanh ấy mới dài lâu. Một hạng mục kinh doanh lớn không chỉ nhắm đến phúc lợi của gia đình mình, mà phải nghĩ đến xã hội và thế giới, đặc biệt trong thời hội nhập hiện nay.
Tôi tìm hiểu về các doanh nhân và thấy rằng, họ biết hội nhập bằng nhiều kiểu giao lưu như đánh đàn, ca hát, diễn kịch, chụp ảnh... thậm chí có người còn là nghệ sĩ. Nghệ thuật, đối với họ không phải chỉ được bảo trợ bởi đồng tiền ném ra cho nghệ sĩ, mà chính họ phải biết trân trọng nghệ thuật, ít ra phải ngang bằng với giá trị của đồng tiền ấy.
Ðể chứng minh điều này, tôi xin kể về một người bạn của tôi, một doanh nhân có tầm cỡ ở bang Michigan. Chỉ vì yêu nghệ thuật điêu khắc Việt Nam mà ông phải bay tới bay lui nhiều lần đến Ngũ Hành Sơn (Ðà Nẵng) để trao đổi với người thợ điêu khắc về đá, về thế ngồi thế đứng của những bức tượng. Khi tôi hỏi tại sao phải mất công như thế, ông trả lời rằng: "Tôi không khinh thường nghệ sĩ bằng việc ném đồng tiền ra cho họ rồi lo kinh doanh việc khác (mặc dù ông cực kỳ bận rộn) để rồi rất có thể nhận được một tác phẩm không ưng ý". Sự trân trọng và bảo trợ nghệ thuật là tư cách đúng đắn của một doanh nhân.